Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Chuyện tình của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và "Nửa hồn thương đau"

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một trong những người góp phần làm phong phú cho nền âm nhạc Việt Nam, dù rằng những nhạc phẩm của ông không nhiều nhưng trong số đó đó đã không ít bài hát đi vào lòng người, trở thành bất tử với thời gian.


Trang web Phạm Đình Chương  http://www.phamdinhchuong.com/

Có thời, ông được giới báo chí mệnh danh là ông hoàng trong lĩnh vực phổ thơ thành nhạc. Ông đã khuất bóng hơn hai chục năm nay nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời như:
“Nửa hồn thương đau”, “Tiếng dân chài”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”… vẫn được các ca sĩ thời hiện đại hát vang lên trong khắp các sân khấu trong Nam, ngoài Bắc và cả hải ngoại với danh tiếng là dòng nhạc sang trọng, được nhiều người yêu thích.
Thế nhưng ít ai biết rằng nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” lại được người nhạc sĩ tài hoa này phổ thơ của Thanh Tâm Tuyền trong một đêm mưa gió tuyệt vọng nhất của cuộc đời, sau cuộc tình lớn nhất trong đời ông nhưng lại tan vỡ trong tai tiếng lúc bây giờ.
Gia đình tài tử và cuộc tình lớn của cuộc đời Phạm Đình Chương
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Từ trước cho đến nay có thể nói hiếm có gia đình nào như gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương, bởi vì đây là gia đình đã sản sinh ra những tên tuổi có tiếng tăm và trở thành một phần quan trọng trong đời sống của âm nhạc Việt Nam một thời.
Trong đó có thể nói tươi sáng nhất của ban nhạc gia đình này, phải kể đến Phạm Đình Chương (1929 – 1991), mà khi đi hát ông còn có nghệ danh khác là Hoài Bắc.
Cần phải nhắc một chút về đại gia đình tài tử của Phạm Đình Chương mới thấy rằng cái sự ảnh hưởng của gia đình này đến đời sống âm nhạc một thời là không nhỏ. Cụ thể thân phụ của Phạm Đình Chương, là ông Phạm Đình Phụng (một người có biệt tài chơi đàn Tranh) là người có hai đời vợ.
Người vợ đầu của ông Phụng có hai người con: Phạm Đình Sỹ (là chồng của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, là cha ruột của ca sĩ Mai Hương) và Pham Đình Viêm (tức ca sĩ Hoài Trung).



Nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Mai Hương
Còn người vợ hai (một người đàn bà có tài chơi đàn Bầu) lại là mẹ ruột của những tên tuổi lớn một thời như: Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng – vợ của nhạc sĩ Phạm Duy), Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh (ca sĩ Thái Thanh).

Riêng về nhạc sĩ Phạm Đình Chương, vì có truyền thống gia đình nên ông được học nhạc lý từ rất sớm. Ngoài cha, ông còn may mắn được nhiều người khác chỉ dạy. Tuy nhiên một thực tế là tài hoa của nhạc sĩ này được biết đến đều nhờ vào khả năng tự học, tự rèn luyện của ông là chính.
Giai đoạn sau năm 1945, khi  giai đoạn kháng chiến chống Pháp đang sục sôi thì các anh em của Phạm Đình Chương cũng lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi yêu nước, lúc bấy giờ anh em của gia đình ông vào ban văn nghệ Quân đội của quân khu IV và quân khu III.
Trong giai đoạn mang lời ca tiếng hát để phục vụ cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ấy, ban hợp ca Thăng Long gồm những thành viên trong gia đình Phạm Đình Chương đã ra đời.
Lúc bấy giờ ngoài việc ngày đêm lặn lội khắp các đồng bằng, rừng núi đi theo cuộc kháng chiến chống Pháp thì riêng bản thân Phạm Đình Chương bắt đầu tập tành sáng tác.
Những tác phẩm đầu tay của ông cũng như trong giai đoạn này đều được biết đến là các nhạc phẩm tiền chiến mang không khí hào hùng, mạnh mẽ, theo nhiều tài liệu để lại thì nhạc phẩm đầu tay của Phạm Đình Chương khi ông 18 tuổi được biết đến là: “Ra đi khi trời vừa sáng”, “Hò leo núi”, “Được mùa”….
Vợ cũ của Phạm Đình Chương- nữ ca sĩ Khánh Ngọc
Vợ cũ của Phạm Đình Chương- nữ ca sĩ Khánh Ngọc
Theo đó năm 1954, có tài liệu ghi là năm 1951, cả gia đình của Phạm Đình Chương chuyển vào Sài Gòn sinh sống.
Tại “Hòn ngọc Viễn Đông” này, ban hợp ca Thăng Long được tái hợp với sự hiện diện của các tên tuổi đã thành danh như: Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Phạm Duy, đôi khi còn có thêm sự góp mặt của nữ ca sĩ kiêm diễn viên Khánh Ngọc – sau này là người vợ, cũng là mối tình lớn nhất, sâu đậm nhất trong cuộc đời Phạm Đình Chương.
Thời ấy hễ phòng trà, rạp hát nào có sự hiện diện của ban hợp ca Thăng Long thì lập tức nóng sốt, vé bán sạch trong buổi sáng, thậm chí là trước đó vài ngày; nhiều tờ báo “lá cải” giai đoạn đó cứ in hình của ban nhạc anh em, đặc biệt là 3 giai nhân gồm Thái Thanh, Thái Hằng và Khánh Ngọc… ngay ở trang bìa thì cũng có thể kiếm ăn được kha khá.
Riêng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này ông vẫn sáng tác đều đặn với những ca khúc mang âm hưởng nhớ quê hương miền Bắc như: “Anh đi chiến dịch”, “Khúc giao duyên”, “Xóm đêm”…. Ông còn được biết đến là thiên tài phổ thơ thành nhạc một cách hào hoa, tạo nên nhiểu nhạc phẩm để đời.
Được biết chính trong môi trường âm nhạc, cuộc sống đầy lời ca tiếng hát, một thời Phạm Đình Chương đã nên duyên vợ chồng với ca sĩ Khánh Ngọc – một ngôi sao sáng trên bầu trời âm nhạc và nền điện ảnh giai đoạn đó.
Với tài hoa của những tác phẩm danh tiếng và là ngôi sao sáng trong ban nhạc anh em, cuối cùng Phạm Đình Chương đã chiếm hữu được người đẹp có thân hình bốc lửa mà báo chí Sài Gòn một thời mệnh danh là “ngọn núi lửa”, với bộ ngực quyến rũ, giọng ca ma lực say mê lòng người và từng là mục tiêu săn đón của biết bao đại gia Sài Gòn thuở ấy.
Thế nhưng cũng chính vì sự tan vỡ trong cuộc hôn nhân lớn và đầy tai tiếng này mà Phạm Đình Chương đã để lại cho đời những bản tình ca lay động lòng người, trong đó có tác phẩm “Nửa hồn thương đau”.

 Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc


Bi kịch gia đình và tình ca bất hủ “Nửa hồn thương đau”
Đó là giai đoạn những năm của thập niên 60 của thế kỷ trước. Bấy giờ vợ chồng Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc nổi tiếng khắp miền Nam – Bắc, bỗng nhiên trở thành tâm điểm của dư luận và báo chí bởi một cuộc li hôn đầy tai tiếng, chấn động.
Và hơn ai hết nỗi đau đớn tột cùng này Phạm Đình Chương đã không ngờ đến. Đó là thời gian đầu ông nghe tin phong thanh rằng Khánh Ngọc đã có một người đàn ông khác.
Tuy nhiên vì tình yêu vợ của ông quá lớn, ông không tin rằng vợ mình đang có những chuyện tày trời như thế và hai vợ chồng đang có đứa con nhỏ hơn 4 tuổi nên Phạm Đình Chương đã bỏ ngoài tai những lời đồn đại vô căn cứ, hơn ai hết ông hiểu rằng cái đời “xướng ca vô loài” này đối diện với những tai tiêng của dư luận sẽ như thế nào.
Do đó ông đã có một thời gian im lặng mà sống, tránh tiếp xúc với những câu hỏi của dư luận, báo chí về việc này.
Thế nhưng cây kim trong bọc cũng có ngày lòi ra, một buổi tối định mệnh, theo yêu cầu của một người bạn thân, Phạm Đình Chương đã có mặt và bắt quả tang vợ mình đang cùng nhân tình “ăn chè” ở tận miệt Nhà Bè – vùng ven Sài Gòn.
Nỗi đau đớn nhân lên gấp bội, khi nhân tình của Khánh Ngọc không ai khác chính là một thành viên trong gia đình của ông, một mối quan hệ cay đắng và oan nghiệt.
Thời điểm ấy trời đất như sụp đổ dưới chân Phạm Đình Chương, nhờ có người bạn dìu, ông mới gắng gượng ra về với cõi lòng tan nát.
Ngay hôm sau và liên tiếp nhiều ngày cái “kỳ án ăn chè Nhà Bè” được báo chí lá cải Sài Gòn khai thác triệt để, với những hình ảnh nóng hổi cập nhật từng ngày, bởi vì những người trong cuộc này không ai khác đều là những người nổi tiếng lẫy lừng, là các thành viên trong một gia đình tài tử danh tiếng.
Trở về với đứa con thơ hơn 4 tuổi, Phạm Đình Chương đã khóc hết nước mắt cho một bi kịch gia đình. Sau đó ông gạt nước mắt, đâm đơn ra tòa xin li dị. Cuối cùng tòa phán quyết thuận tình cho ông li hôn và ông cũng được quyền nuôi đứa con chung của hai người.
Thế là sau đó, cuộc đời Phạm Đình Chương đã chuyển sang một lối rẽ khác, những nỗi buồn luôn thường trực. Ông không còn tâm trạng để cùng ban hợp ca Thăng Long phục vụ khán giả, ông tách biệt với thế giới bên ngoài.
Và đó cũng là bước ngoặt ông chuyển hướng sáng tác, đem những nỗi buồn của mình gửi gắm vào những bài tình ca đầy tâm trạng như: “Người đi qua đời tôi”, “Đêm cuối cùng”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…
Có giai thoại kể rằng, trong một đêm mưa buồn, ông tình cờ đến giải khuây ở sân khấu Đại Nhạc Hội. Không ngờ tại đây ông gặp lại người xưa, tức ca sĩ Khánh Ngọc đang biểu diễn.
Kết thúc đêm diễn, trời đang mưa như trút nước giữa đường phối Sài Gòn, đêm lại buồn hiu hắt ông tiếp cận và ngỏ lời muốn đưa vợ cũ về nhà. Thế nhưng Khánh Ngọc từ chối. Ông lặng lẽ đi dưới trời mưa về nhà với ngổn ngang những tâm trạng buồn bã và ký ức miền hạnh phúc với người đàn bà trong cuộc đời đã vụt qua đời mình.
Có giai thoại kể rằng, trong đêm đó khi về đến nhà, Phạm Đình Chương buồn day dứt, ngay thời khắc ấy ông nghĩ đến quyết định quyên sinh. Thế nhưng giữa đêm mưa gió, nghe tiếng đứa con trai bé bỏng đang khóc thế là ông trở lại với thực tại, quên đi cái ý nghĩ rồ dại kia.
Cũng trong cái đêm đó, khi mà nỗi buồn bi kịch gia đình, hôn nhân tan vỡ khuấy động trong lòng Phạm Đình Chương thì những lời thơ của bài “Lệ đá xanh” của Thanh Tâm Tuyền lại vang lên trong lòng ông.
Những lời thơ như đánh động trúng tâm hồn đơn điệu, bi kịch của ông và trong đêm mưa gió bão bùng của lòng người, mượn một phần lời thơ của Thanh Tâm Tuyền, Phạm Đình Chương đã viết một mạch nên tình ca bất hủ “Nửa hồn thương đau”, thể hiện nỗi đau đớn lớn nhất trong cuộc đời ông.
Sau năm 1975, Phạm Đình Chương xuất ngoại, định cư tại Mỹ và mất tại đây. Trước đó vợ cũ của ông, nữ ca sĩ Khánh Ngọc cũng sang Mỹ và đã có một gia đình mới. Có nhiều lời kể, thi thoảng vô tình nghe nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” của chồng cũ vang lên ở xứ người, bà đã lấy tay quệt vội những giọt nước mắt.
Đời người đã qua, nỗi đau cũng đã trở thành miền quá vãng và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương để lại cho đời đến nay vẫn còn vang vọng.
Đến giờ khi nghe “Nửa hồn thương đau” vang lên với nỗi buồn khôn tả, ít tai biết rằng có một con người tài hoa Phạm Đình Chương đã gửi hết nỗi đau cuộc đời của mình vào bản tình ca đó.
"Nửa hồn thương đau"
Phạm Đình Chương
Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa
Cho tôi về đường cũ nên thơ
Cho tôi gặp người xưa ước mơ
Hay chỉ là giấc mơ thôi
Nghe tình đang chết trong tôi
Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.
Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào
Em ở đâu? Anh ở đâu?
Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất
Và tiếng hát và nước mắt.
Đôi khi anh muốn tin
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người, ôi những người
Khóc lẻ loi một mình.
  • Thành Luân

Khánh Ngọc


Cảnh Gia Đình loạn luân... "Nửa hồn thương đau" và bi kịch của một gia đình 

Doanh Châu


Phạm Duy / Khánh Ngọc / Phạm đình Chương
Phạm Duy / Julie Quang / Duy Quang




  • Phạm Duy là chồng của Thái Hằng.
  • Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương, là chị của Thái Thanh.
  • Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương.
  • Phạm Duy là anh rể của PĐC.
  • Phạm Duy tằng tịu với Khánh Ngọc là vợ PĐC, là em dâu của Thái Hằng.
  • Sau này Phạm Duy tằng tịu với luôn cả Julie Quang là con dâu (tức là vợ của Duy Quang).


- Chuyện dài tiếp tục:

Thái Thanh là mẹ Ý Lan, Ý Lan bỏ chồng tằng tịu với Tuấn Cường, Tuấn Cường là con trai Kiều Chinh.

Khi Ý Lan đi hát, ở nhà Tuấn Cường tằng tịu với con gái lớn của Ý Lan lòi ra một nhi đồng, thế là Ý Lan vừa là vợ, vừa là mẹ vợ của Tuấn Cường.

Nay Ý Lan lấy chồng mới. Con trai chồng mới của Ý Lan lại lấy con gái của Ý Lan (trước đây đã có con với Tuấn Cường). Gia đình nghệ sỹ cứ loạn luân, tung cào cào cả lên.

"Nửa hồn thương đau" và bi kịch của một gia đình


Vào những năm của thập kỷ 60, báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương - Khánh Ngọc.

Có thể nói rằng sự tan vỡ của gia đình tiếng tăm thời bấy giờ được dư luận quy cho một cuộc tình vụng trộm giữa ca sĩ Khánh Ngọc và "tình địch" không ai chính là nhạc sĩ Phạm Duy. Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện ra , vợ mình đã yêu người anh rể Phạm Duy. Hay nói cách khác, rể và dâu trong một nhà đã đến với nhau, vượt ra ngoài luân lý đạo thường, vốn là một điều cấm kỵ trong văn hoá gia đình Việt Nam.


Ca sĩ Khánh ngọc, với thân hình bốc lửa, kiều diễm đã được nhiều người biết đến với biệt danh "ngọn núi lửa", cô đã từng làm chao đảo, đắm say nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng và khán giả nam rất ái mộ.

Khánh Ngọc thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh...và là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.

Khánh Ngọc thường đóng cặp với nam tài tử Lê Quỳnh trong các bộ phim do người Mỹ thực hiện trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam.


Năm 1961, Khánh Ngọc sang Hoa Kỳ để học thêm về ngành điện ảnh và gặp một du học sinh Việt Nam (1), hai người đã kết hôn và có được ba người con. Hiện Khánh Ngọc sống với gia đình ở Los Angeles.


Nhờ khả năng diễn xuất của mình, Khánh Ngọc trình bày những bản nhạc rất hấp dẫn. Khi hát bản "Cerisier Roses et Pommiers Blances" lời Việt, vào câu đầu : "Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta..." Khánh Ngọc lim dim mắt, thở dài, tay đè lên quả tim. Cô mở mắt liếc khán giả, nở một nụ cười vừa lẳng lơ vừa khả ái làm khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt...
Đớn đau thay cho Phạm Đình Chương, người "si tình" và cũng "thành công" nhất trong việc chinh phục người đẹp chính là nhạc sĩ Phạm Duy.


Trước khi đâm đơn ra toà, Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn. Và như thế, vào một buổi tối định mệnh, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định.

Trời đất như sụp đổ dưới chân người nhạc sĩ tài hoa, anh gần như đứng không vững, bạn bè dìu quay trở lại nhà, nơi đứa con thơ dại đang ở nhà một mình ngóng chờ ba, mẹ về ...


Ngay lập tức, sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng của các báo được phát hành và "cháy số", đắt đỏ nhất là tờ "Nhật báo Sài Gòn mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" được tung ra với những hình ảnh rất "thời sự" của các thành viên trong gia đình Phạm Đình Chương. Cả Sài Gòn gần như biết hết !


Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt lên bấy nhiêu.

Tan nát ! Không còn cách nào khác, Phạm Đình Chương gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 4-5 tuổi.


Trong đau khổ tột cùng, không còn tâm trí nào để đi biểu diễn với các nghệ sĩ trong Ban hợp ca Thăng Long, Phạm Đình Chương quay về sống đơn độc và ít giao thiệp với bên ngoài. Kể từ đó, những bản tình ca bất hủ ra đời trong nước mắt, trong thương đau vô bờ bến và những hoài niệm xót xa: "Đêm cuối cùng", "Người đi qua đời tôi", "Khi cuộc tình đã chết", "Thuở ban đầu", "Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển"...


Một đêm mưa tầm tả ở Sài Gòn, ông tình cờ gặp lại Khánh Ngọc trên một sân khấu Đại Nhạc Hội, ông có nhã ý muốn đưa cô vợ đã li dị về nhà nhưng khốn thay, ông bị từ chối. Trong mưa rơi, ông lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa trắng xoá, nhớ về những ngày hạnh phúc giờ đang trôi theo dòng nước.... Phạm Đình Chương quyết định quyên sinh và giã từ cõi đời này, nơi đã đem đến cho ông quá nhiều nỗi bất hạnh.


May thay, tiếng khóc như xé lòng của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Từ đáy tâm thức, một lời nhắn nhủ khuyên ông hãy cố gắng sống tiếp quãng đời còn lại để nuôi đứa con thơ dại.

Ông bừng tỉnh và từ bỏ ý định tự tử.

Ngay đêm đó, "Nửa hồn thương đau" được khai sinh ở ranh giới giữa sự sống và cái chết của người nhạc sĩ. Trong nước mắt thương đau, sự rã rời, tan nát của tâm can. Ngồi nhìn vầng trán thơ ngây của đứa con trai, Phạm Đình Chương đã viết hết nốt nhạc cuối cùng của ca khúc bất hủ này. Nếu đã một lần nghe bài hát này, chúng ta sẽ hiểu được tâm hồn của con người chỉ có thể chịu đựng đến một giới hạn nhất định. Khi nhắc tới Phạm Đình Chương, người ta lại nghĩ ngay đến "Nửa hồn thương đau" bởi trong ca khúc này là sự chung thủy tuyệt vời của một người đàn ông.


Gần 50 năm trôi qua, trong góc khuất nào đó của cuộc đời, nghe người em gái của ông, ca sĩ Thái Thanh, hát ca khúc này, chúng ta mới thấy được nỗi đớn đau tột cùng của người nhạc sĩ tài hoa, bất hạnh và đầy nhân cách này./.


Doanh Châu

Ngun: Facebook Doanh Châu
http://www.facebook.com/photo.php?fbid=405692689472295&set=at.375203712521193.80008.100000947010770.100001765807002.1677905380&type=1&theater




Nhạc sĩ phổ thơ mang tính thiên tài

- Nguyễn Việt

Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những nhạc phẩm tình ca lãng mạn được sáng tác từ thời tiền chiến cho đến bây giờ. Đa số nhạc phẩm do ông sáng tác được phổ từ thơ.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một tên tuổi lớn của nền âm nhạc Việt Nam. Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ cả hai đều  “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc đủ thể loại và theo kiểu “thị trường” như “Sức Mấy Mà Buồn”, “Bỏ Qua Đi Tám” hay nhạc Việt hóa v.v… mà Phạm Duy có sở trường. Phạm Đình Chương chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.
Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương từ trước đến nay :
- Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thuở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…
Nhạc phổ thơ có những ca khúc như : Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)… và còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…



Một chút tiểu sử :
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký bút hiệu Phạm Đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.
Từ nhỏ Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn về nhạc lý, nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó thành tên Ban hợp ca Thăng Long.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi… có không khí hùng tráng tươi trẻ.
Năm 1954, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống, rồi tái lập lại Ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình như các nhạc phẩm : Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài… Thời gian sau, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân…
Sau khi cuộc hôn nhân với nữ ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá : Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau…
Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)… ông cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt với một bản trường ca bất hủ mang tựa “Hội trùng dương” viết về ba con sông nước Việt là sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.
Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ, và mất vào ngày 22/8/1991.

“NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

VỚI TÂM SỰ RIÊNG TƯ

Vào những năm 1960 thế kỷ trước, báo chí Sài Gòn đã hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kỳ vụ nhạc sĩ Phạm Đình Chương ly dị vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm cả hai trở nên nổi tiếng, vừa theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.
Bởi lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, lúc ấy “nhóm Thăng Long” bao gồm nhiều nghệ sĩ nổi danh như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh cũng là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.
Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên các sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Kiều Hạnh, Duy Trác, Anh Ngọc, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Đức Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức.
Khánh Ngọc đang là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát. Đồng thời Khánh Ngọc còn đóng mấy phim với nam tài tử Lê Quỳnh một loạt phim nói về những ngày di cư từ Bắc vào Nam do Mỹ thực hiện.
Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Lúc đó báo chí Sài Gòn biết rất nhanh, và vụ “ăn chè Nhà Bè” được các báo khai thác triệt để, do vợ chồng Phạm Đình Chương và “thủ phạm” đều là những người nổi tiếng, mọi người mới biết kẻ trong cuộc gây ra chuyện này không ai xa lạ, chính là người anh rể của ông.
Người đau lòng nhất chính là Phạm Đình Chương chồng Khánh Ngọc, vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ dư luận xã hội đều đã rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin ly dị.
Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong Ban hợp ca Thăng Long, ông lui về trong bóng tối thầm lặng viết những bài tình ca buồn, như để tâm sự với chính mình. Một loạt ca khúc mang tâm trạng như thế ra đời như “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…
Sau khi ly dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, ông có ý muốn đưa cô vợ đã ly dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm với một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc, giờ đang trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc của con, ông mới từ bỏ ý định !?
Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời bài hát “ Nửa hồn thương đau” được Phạm Đình Chương viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của ông sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

NGƯỜI PHỔ THƠ MANG TÍNH THIÊN TÀI

Thật ra nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương là được ông phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý tứ cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.
Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng người ái mộ như các ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v… cho nên nếu so sánh cung cách phổ thơ của Phạm Duy, có thể nói Phạm Đình Chương xuất sắc không kém, do ông lấy văn học đưa vào nhạc, còn Phạm Duy đôi khi đưa thơ vào nhạc mang tính thị hiếu nhiều hơn.
Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn rộng tỏa trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thuở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…
Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, hay những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua.
“Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc “Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :
Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh là bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn anh không nói năng ….
“Cuối cùng không thể không đề cập đến “Trường khúc Tam Giang” tức “Hội Trùng Dương” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của ba miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Trường ca này được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện tình cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu hò mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng tình yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 dòng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông.
Sau đây là những nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ thơ (một vài ca khúc tiêu biểu) :
NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU
- Phổ thơ Thanh Tâm Tuyền
Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa / Cho tôi về đường cũ nên thơ / Cho tôi gặp người xưa ước mơ / Hay chỉ là giấc mơ thôi / Nghe tình đang chết trong tôi / Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời
Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào / Em ở đâu? Anh ở đâu? / Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt / Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất / Và tiếng hát và nước mắt
Đôi khi anh muốn tin/ Đôi khi anh muốn tin / Ôi những người ôi những người / Khóc lẻ loi một mình…
ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY
- Phổ thơ Quang Dũng
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh / Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai
Đôi mắt Người Sơn Tây / U uẩn chiều luân lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây, / Buồn viễn xứ khôn khuây / Em hãy cùng ta mơ / Mơ một ngày đất mẹ / Ngày bóng dáng quê hương / Đường hoa khô ráo lệ
Tôi từ chinh chiến đã ra đi / Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì / Sông Đáy chạm nguồn quanh phủ Quốc / Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay
Em vì chinh chiến thiếu quê hương / Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn / Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương.
Nguyễn Việt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét