Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

LẤP SÔNG ĐỒNG NAI LÀ TOÀN THỊNH PHÁT TỰ LẤP MÌNH

Bài đọc liên quan:
+ 300 năm xây và 30 năm phá

Toàn cảnh sông Đồng Nai nhìn từ máy bay - Ảnh của Người Đưa Tin.

Dẫn nhập

Tôi sống ở Sài Gòn từ năm 1983 đến nay đã 32 năm. Từ đó đến cuối thập niên 1990 Sài Gòn không bao giờ bị ngập do thủy triều hay do mưa lớn. Sáu năm trước - năm 2009 - tôi viết bài: 300 năm xây và 30 năm phá là để cho chính quyền Sài Gòn thấy rằng, khi họ làm dự án khu đô thị phía Nam Sài Gòn, lấp đầm hồ, ao để xây khu đô thị Phú Mỹ Hưng, thì mới gây ra cảnh ngập lụt thành phố Sài Gòn. Mặc dù sau đó, Sài Gòn đã có cái dự án cấp thoát nước hàng chục ngàn tỷ của ông Huỳnh Ngọc Sỹ, nhưng vẫn ngập vào mùa mưa.

Quy luật cân bằng của tạo hóa là ở chỗ này. Cho nên, xưa ông bà ta khi xây một căn nhà thì đào ao lấy đất làm nhà, và ao làm nơi chăn nuôi, trồng trọt, chứ không ai đi lấp ao, đầm hồ để tạo ra đất bán ăn, để rồi thiếu nơi chứa nước, và hậu quả gọi là "biến đổi khí hậu" gây ra "triều cường" ngập lụt thành phố.

Cảnh hủy hoại môi trường, ngập lụt này bây giờ không chỉ ở Sài Gòn, mà còn ở hầu hết các thành phố trong cả nước. Hà Nội, Quy Nhơn, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, etc khi mùa mưa đến. Nó là hậu quả của bài toán kinh tế học theo Trung Hoa: Đổi quỹ  tài nguyên đất đai làm cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách giả tạo, thông qua đầu tư, và đầu cơ kinh doanh bất động sản.

Trong cơn khủng hoảng kinh tế nước nhà từ năm 2008 đến nay do bất động sản đóng băng, nhiều doanh nghiệp lâm vào nợ xấu, do kinh doanh ngoài ngành, như EVN, PVN, và các ngân hàng thương mại cổ phần đều khốn đốn. Nhưng Tòan Thịnh Phát lại nghĩ ra sáng kiến lấp sông Đồng Nai để xây khu đô thị ven sông phục vụ cho kinh doanh bất động sản có thể thành công hơn là xây dựng ở những nơi nằm trong đất liền, khó bán buôn.

Dự án của Tòan Thịnh Phát là một sai lầm cơ bản

Ảnh 1: Googloe Earth khu vực lấp sông Đồng Nai được đánh dấu(hãy click chuột vào hình để phóng t hình ra sẽ xem rõ hơn)

Hãy nhìn ảnh 1, chúng ta thấy những đặc điểm sau đây cho thấy dự án lấp đất ở khu vực được khoanh vòng tròn đỏ trên là một sai lầm về mặt khoa học. Nó sẽ gây hậu quả không tránh khỏi là, khu đất này sẽ bị nước sông Đồng Nai thổi trôi chỉ trong vài mùa mưa lũ. Tại sao tôi chắc chắn thế? Ví:

Thứ nhất, thượng nguồn sông Đồng Nai ở phía hướng về hướng trước khi tạo ra ngả ba sông và doi đất Cù Lao Phố. Nước thượng nguồn sẽ đổ từ trên rồi đi qua khu vực lấp sông của Tòan Thịnh Phát, rồi mới đến chỗ chia làm ngả ba sông. Ngả ba này gồm một ngả có cây cầu Ghềnh rộng hơn, và một ngả có cầu Hiệp Hòa, hẹp hơn. Doi đất có cái mũi như hình tam giác nhô ra tại ngả ba là Cù Lao Phố.

Vị trí lấp đất để làm khu đô thị ven sông Đồng Nai của Tòan Thịnh Phát là vị trí lõm vào của dòng sông Đồng Nai bị uốn quanh trước khi đến ngả ba sông. (Xem thêm ảnh 2&3)

Ảnh 2 và 3: Phần lõm vào của khu vực lấp sông và nhánh sông đi qua cầu Hiệp Hòa ôm lấy Cù Lao Phố, sau đó hợp long với nhánh chính đổ ra biển(hãy click chuột vào hình để phóng t hình ra sẽ xem rõ hơn)

Thứ hai, không phải ngẫu nhiên sau hàng triệu năm mà sông lại có hình dáng của những khúc quanh. Sông luôn có những khúc quanh, là do bên lở bên bồi do địa hình đáy sông và lòng sông, mà nước chảy siết ở một bên, và lặng lờ ở một bên, khi nước lớn hay nước ròng.

Phần lõm, ông bà mình bảo là bên lở; phần lồi, của khúc quanh ông bà mình bảo là bên bồi đắp. Nước luôn chảy chảy siết ở phần lõm - bên lở. Và ngược lại, nước chảy lặng lờ, không có sóng đánh vào bờ ở bên bồi. Đó là do đáy sông nông ở bên bồi, và sâu ở bên lở. Nó là nguyên nhân để tạo ra những khúc quanh của dòng sông.

Sự hình thành những khúc quanh này không phải chỉ tùy thuộc vào đáy sông, dòng chảy và tác động thủy động lực học của dòng chảy, mà còn phụ thuộc vào cơ học đất của 2 bờ. Dĩ nhiên, bờ lở lúc nào cũng yếu hơn bờ bồi.

Khu đất mà, Tòan Thịnh Phát lấp sông là khu đất thuộc bên lở. Nó sẽ bị dòng sông xói mòn và tác động lực thủy động lực học mạnh nhất vào đây.

Nước chảy thì đá cũng mòn, nhưng nước lũ thì núi cũng bay. Thế thì khu đất mà Tòan Thịnh Phát lấp sông để tạo thành, không chóng thì chày cũng bị nước lũ sông Đồng Nai cuốn trôi.

Thứ ba, thượng nguồn sông Đồng Nai có đập thủy điện lớn nhất phía Nam - Đập thủy điện Trị An. Cứ mỗi mùa mưa đến, đập này xả lũ. Mặc dù đập này đã được Pháp khảo sát thiết kế từ thời Pháp thuộc rất an toàn trong việc điều hòa lượng nước hạ nguồn. Nhưng với tình trạng phá rừng, như vụ việc chính phủ phải hủy bỏ dự án đập thủy điện 6, 6A cũng của tỉnh Đồng Nai hồi cuối tháng 9 năm 2013, cho thấy sẽ thiếu rừng thượng nguồn giữ nước khi mùa mưa đến.
Trong âm nhạc câu: "bên lở bên bồi" của dòng sông cũng được ghi nhận

Nhưng dù có không lở, không bồi thì liệu việc lấn sông nhân tạo của Toàn Thịnh Phát có đủ khả năng về mặt kỹ thuật, công nghệ để giữ được đất qua vài mùa mưa lũ của sông Đồng Nai không? Vì lòng sông Đồng Nai có từ khi khai sơn lập địa của trái đất, chứ không phải mới có hôm nay mà dễ dàng muốn là lấp.

Hậu quả nắn dòng này sẽ đẩy dòng chảy của nước thúc thẳng vào mũi Cù Lao Phố trong tương lai. Ở Cù Lao Phố đã từng có mộ phần, và giờ là miếu thờ của Tướng quân Nguyễn Hữu Cảnh - một tướng công đầu mở cõi làm ra miền Nam hơn 300 năm trước - là vùng đất của di tích quốc gia. Liệu nó sẽ ra sao?

Thế thì, liệu khu đất mà Tòan Thịnh Phát có đáng để dân chúng bỏ tiền ra mua mà sống yên ổn với những trận lũ lụt do sông Đồng Nai gây ra khi mùa mưa lũ đến?
Hình thực địa vụ lấp sông Đồng Nai đến ngày 26/3/2015 của Báo Tuổi Trẻ(Click chuột vào để cho hình lớn và rõ hơn)

Luận

Đất nước ta trong 25 năm năm cởi trói với chiến lược phát triển kinh tế của Trung Hoa: đổi tài nguyên, đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhằm phát triển kinh tế, chỉ là một chiến lược kinh tế ăn xổi ở thì, không có tính bền vũng dài lâu. 

Bây giờ, tài nguyên đã cạn, môi trường đã hủy hoại, nhưng chặt cây trăm tuổi ở Hà Nội, khác nào tự đâm vào lá phổi của dân Hà Nội? Lại còn lấp sông để làm ra đất kinh doanh, thì khác nào tự hủy hoại nguồn nước nuôi sống cả 6 tỉnh miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn?
Đây gọi là lũ quét ở Ai Cập, ở Việt Nam mình vùng núi phía Bắc đã từng xảy ra khoảng 10 năm nay, vào mùa mưa. Tương lai sẽ còn xảy ra ở khắp mọi miền đất nước với cách bán tài nguyên môi trường như hiện nay để kiếm ăn?

Tài nguyên to lớn nhất của một quốc gia là con người - như tôi đã từng viết đầu năm nay. Quốc gia nào có lãnh đạo biết nâng sức sáng tạo của con người đến tối ưu, thì đất nước ấy sẽ là cường quốc, dù ít dân hơn ta một nửa như Hàn Quốc. Còn quốc gia nào chỉ biết bán của để dành của tổ tiên thì mãi là một quốc gia chậm tiến, ngay cả Trung Hoa có đến 1,4 tỷ dân, tổng sản lượng kinh tế quốc dân thứ hai thế giới, nhưng ông Lý Khắc Cường phải công nhận hôm 16/3/2015 rằng, ''Trung Quốc vẫn là một nước đang phát triển theo mọi nghĩa của từ này."

Kết

Quyết định chặt cây vì tiền tài trợ của Hà Nội lên đến 73 tỷ đồng là một sai lầm cho thấy khả năng và tầm nhìn của lạnh đạo một thủ đô đất nước quá kém, nhưng chính họ đã phải dừng lại trước áp lực và sự hiểu biết của nhân dân.

Liệu lãnh đạo tỉnh Đồng Nai có thấy được sai sót và kém tầm nhìn của mình trong việc cho phép dự án lấp sông bán đất của Tòan Thịnh Phát, và cho dừng dự án như lãnh đạo Hà Nội hay không?

Nếu lãnh đạo tỉnh Đồng Nai vì một lý do khó nói nào đó, vẫn chưa thấy sai sót, thì liệu thủ tướng chính phủ Việt Nam có quyết định ngưng dự án sai lầm, nguy hiểm này của Tòan Thịnh Phát và của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, như đã từng quyết định sáng suốt buộc phải dừng dự án thủy điện 6 và 6A trước đây cũng của tỉnh Đồng Nai gây ra không?

Tại sao không làm bờ kè dọc theo sông Đồng Nai và con đường Cách Mạng Tháng Tám dọc sông Đồng Nai như đại lộ Võ Văn Kiệt ở Sài Gòn, mà phải làm khu đô thị bằng cách lấp sông, mới gọi là tạo vẻ đẹp cảnh quang đô thị?

Asia Clinic, 15h15' Chúa Nhựt, 22/3/2015

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Nguồn Gốc Của Văn Hóa Bạo Lực?

BongMaHocDuong
Sắt và máu
Huy Phương – Theo Nhóm Văn Tuyển – 8 Dec 2014
Người ta gọi cờ của Cộng Sản là lá cờ máu, mà không phải chỉ Việt Nam, các nước Cộng Sản trên thế giới đều có lá cờ nền đỏ, từ Liên Bang Xô Viết, Trung Cộng, Bắc Hàn hay Cuba.
Chính cái màu máu đó “Người” đã vác về từ Liên Xô gây thảm họa cho dân tộc Việt Nam. Tố Hữu trong bài “Hoa và Máu” đã ca tụng “Người” của ông, nhưng có kết quả ngược, khi đọc lên, người ta thấy “Người” quả thật là một nhân vật ngoi lên từ vũng máu:
“Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu
Người vươn lên như một thiên thần!”
Và cả dân tộc này đang hân hoan phấn khởi được ngụp lặn, vùng vẫy trong máu:
“Ta lại về ta, những đứa con
Máu hòa trong máu, đỏ như son.”
Từ chủ trương sắt máu đó Tố Hữu cũng đã hò hét:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…”
Không ai nghĩ ra vì sao phải đổ máu cho tốt ruộng đồng và thu thuế nhanh hơn, phải chăng đó là một lối cai trị bằng sắt máu và khủng bố!
Ngay trong bài quốc ca “Tiến Quân Ca” chúng ta đã phải rùng mình khi nghe những lời hát man dại của Văn Cao:
“Thề phanh thây uống máu quân thù
Tiến mau ra xa trường, tiến lên!”
Những nhà thơ khác như Xuân Diệu cũng nhập cuộc, chủ trương:
“Máu kêu máu trả thù.
Súng đâu, anh em đâu.
Bắn nó thủng yết hầu,
Bắn tỉa nó dài lâu!”
Lời kêu gọi của những con người thèm khát nhìn thấy máu này, đã đưa dân tộc đến thảm sát Mậu Thân, pháo kích trường học ở Cai Lậy, bắn pháo trên “đại lộ Kinh Hoàng,” gây biển máu trên Quốc Lộ 7B và những vụ trả thù ghê gớm trong ngày miền Nam thất thủ. Những người thèm máu trong chiến tranh, dù hôm nay ngày hòa bình, đã đạt kết quả.
Ngày xưa có những bài toán trừ: “10 tên lính Mỹ giết 6 tên, còn lại mấy tên?” Nhưng ngày nay Việt Nam mon men lại gần Mỹ, “hoan nghênh việc Hạ Viện Hoa Kỳ lần đầu tiên thông qua một nghị quyết ủng hộ những nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, và việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông,” thì bài toán có máu sẽ đổ lên đầu trẻ thơ vô tội, là, “10 ngón tay bị chặt đứt 2 ngón, tính ra còn mấy ngón tay?” Cũng là máu!
Trên những trang báo trong nước ngày nay, không có ngày nào là không có chuyện máu. Người ta giết nhau không cần đến súng, mà bằng búa bằng dao. Sư giết người yêu chôn trong vườn chùa, cha giết con, con cầm dao giết mẹ, anh em vợ chồng đoạt mạng nhau, còn phân thây, vứt bên lề đường, vùi trong bụi chuối, ao hồ. Mới đây là chuyện thiếu niên mới 15 tuổi giết cô chăn bò 52 tuổi, lột lấy bông tai và hiếp dâm thi thể, một thanh niên khác trấn nước nạn nhân cho đến chết, rồi kéo lên bờ làm chuyện tồi bại.
Bây giờ là thời buổi của ma quỷ hiện hình cũng như con người khát máu ưa chém giết nhau, chỉ vì không biết phù phép, bùa chú, yểm ma trừ tà, không chịu chôn hay thiêu đốt mà để con quỷ dâm dục, khát máu, bạo tàn sống nằm khô héo nhăn răng trong lăng.
Chúng ta thường nghĩ, chiến tranh là chuyện bất đắc dĩ, khi tiếng súng đã im trên chiến trận, dù ai chết, bên này hay bên kia, thì cũng là người, ai cũng có những người thân, cũng có một mái ấm. Phải là người lính của miền Nam ngày trước mới có được nỗi buồn xót xa, nhân bản như Tô Thùy Yên:
“Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?
Hay như Trần Hoài Thư:
“Ai bạn, ai thù sao quá thảm,
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia!”
Trong khi đó, những người Cộng Sản hả hê:
“Ném lựu đạn cho người vui vật sướng!”
Hay cầm súng giết người mà hãnh diện:
“Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí!” (Xuân Diệu)
Ngay cái hầm chông của du kích là một vũ khí giết người, khi một con vật sa vào bẫy, dù thèm miếng thịt cũng bất nhẫn, khi thấy con vật giẫy giụa đau đớn trong máu me, nhưng Chế Lan Viên đã “yêu,” ca tụng nó, thứ vũ khí giết người:
“Hỡi cái hầm chông
Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng
Cái hầm chông nhọn hoắt…”
Sau khi giết người, họng súng của con người Cộng Sản “phải reo ca,” nên chế độ ấy, ngày nay sinh sản ra những con người sát nhân, hiếp dân, vứt xác xong về đi ngủ, hay ra quán ngồi nhậu tiếp.
Thời buổi cai trị bằng sắt máu, dùng bạo lực, công an là lực lượng trung thành trấn áp nhân dân, “còn đảng còn ta” nên cảnh giết người, đánh đập người dân trong các đồn công an trong khi lấy khẩu cung gây nên cảnh chết chóc, dàn cảnh tự tử không hiếm tại Việt Nam hôm nay. Cảnh cướp đất, cướp nhà đã dồn người dân lành thành dân oan, ăn đường, ngủ bụi, oán thán ngất trời.
Chúng ta trông đợi, hy vọng gì ở cái xã hội suy đồi bại hoại này, nó phát xuất từ cây đa Tân Trào, hay hang Pác Bó thì cũng đem lại cái chết cho hàng triệu thanh niên và ngày nay là đạo lý suy đồi. Hay biết mấy những câu thơ của Tố Hữu áp dụng cho hoàn cảnh hôm nay:
“…Càng tức nước, càng xui bờ vỡ
Lòng dân ta như lửa thêm dầu
Lưỡi lê, mũi súng, nhà tù
Càng đau, càng khổ, càng thù, càng căm!”
(Ba mươi năm đời ta có đảng)
Rồi đây, có lẽ sẽ không có “Cách Mạng Nhung,” “Cách Mạng Hoa Lài,” gì nữa. Khởi đầu con đường đi bằng máu, sợ rồi đây nó sẽ tự kết thúc bằng máu như Tố Hữu đã từng kêu lên, “Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu!”
Một Góc Nhìn Khác Về Sự Đa Dạng Của Văn Hóa “Không Định Hướng”
CÁC “PHÊ PHÁN VĂN HỌC” (Thời VNCH)
Trương Phu Tử – Hồ Quang – Theo Sử Học VN – 11 April 2013
Nếu nói rằng chế độ Việt Nam Cộng Hòa khởi đầu từ sau khi Hiệp Ðịnh Genève (1954) được ký kết cho đến khi Miền Nam Việt Nam bị VC cưỡng chiếm (30-4-1975), thì đã gần 21 năm… Nhìn lại với thời gian này, so với hiện tại thì người dân Miền Nam được hưởng cảnh tự do, dân chủ một cách thực sự… không như hiện nay đã bị khóa chặt bởi ý thức hệ “xã hội chủ nghĩa” khiến người cầm bút bị bắt buộc theo một định hướng được “đảng” đề ra.
Nhìn ngược trở lại thời kỳ trước 1975, Văn Học Miền Nam cũng chỉ là một phần của dòng Văn Học Việt Nam nói chung, nó không thể bị tách rời và bị nhà cầm quyền đương thời loại bỏ… mà phải được gìn giữ, được ca tụng. Chính nó (Văn Học dưới thời VNCH) đã đưa vào Văn Học Việt Nam những tia sáng của tự do, của dân chủ vì được ảnh hưởng ở nhiều tư tưởng văn minh của Thế Giới Tự Do và ngay cả những tư tưởng “đổi mới” của những người trong Thế Giới Cộng Sản. Đến hôm nay thì chúng ta đã nghiệm ra được “nó” là sự đối chọi quá rõ ràng, làm chậm bước tiến, và có thể chận đứng luôn sự phát triển cái gọi là “dòng văn học cách mạng” mà CSVN thường cổ xúy.
Ðể chứng minh điều này, chúng ta thử xem xét văn học thời đó như thế nào?
Dĩ nhiên, ông cha ta thường nói “Văn tức là Người” và “Văn Dĩ Tải Ðạo”… Như thế có nghĩa “con người phải như thế nào mới có lời văn thể hiện” và trong “lời văn đó sẽ nói lên cái gì, hàm ý gì”?… Cái gì ở đây không phải chỉ là một sự tuyên truyền duy nhất cho một chủ nghĩa, mà nó phải mang tính đa nguyên để đi đến đa chiều do sự du nhập của đa phương hướng từ bên trong cũng như từ bên ngoài…
Việc phê bình văn học mang tính phê phán, không thể chỉ nói đến chuyện sáng tác không thôi, mà còn phải nói đến những phê phán đối với nó nữa. Ðiều này rất cụ thể vì bất cứ tác phẩm nào đem trình làng và muốn nó được “tải” đi rộng khắp, phải nhờ vào tình cảm độc giả đón nhận tác phẩm đó như thế nào… Nghĩa là tác giả đưa ra tác phẩm thể hiện được mọi khía cạnh của cuộc sống, góp phần đưa thêm nguồn sinh khí mới vào văn học tại giai đoạn đó… Tìm ra được những ngõ ngách và sự suy nghĩ như thế này, chính là chúng ta đang làm công việc “phê phán” từ một “phê phán” có trước đó.
Ngày nay Việt Nam, từ bên ngoài nhìn vào, tuy có thay đổi về mặt hình thức, nhưng về mặt “nội dung” thì quả là một thảm hại… “văn học” là cái làm cho ai cũng có thể nhận ra sự “thảm hại” này được. Một nhà văn nào đó muốn diễn đạt tư tưởng của mình qua tác phẩm thì “tư tưởng” đó phải có sự chỉ đạo của “nhà nước” (không muốn nói là chỉ đạo từ Ðảng). Chỗ này chúng ta so sánh được ngay với thời VNCH, như thới Tổng Thống Diệm, tác phẩm “Thềm Hoang” của Nhật Tiến tuy có nội dung phê phán chế độ, nhưng vẫn đoạt giải “Văn Học của Tổng Thống”. Chuyện như thế nếu cùng thời điểm tại Miền Bắc sẽ như thế nào? Vụ “Nhân Văn Gia Phẩm”, lịch sử văn học không thể không ghi vào và nhất định những nhà phê bình văn học không thể lặng yên khi đưa ra những kết luận đầy phẫn nộ trong cách phê phán của mình.
Cứ cho rằng văn học tại Miền Bắc có phát triển theo một hướng nhất định của Ðảng Cộng Sản vạch ra, nếu tác phẩm nào có nội dung “lệch đường”, tác giả của tác phẩm đó phải bị thanh trừng vì chống đối chế độ, âm mưu kích động lật đổ chính quyền! Ngược lại, tại Miền Nam, văn học đã phát triển không theo một “định hướng”, “một lề phải” hay “lề trái” nào cả, tác giả tự do biểu đạt ý tưởng của mình trong các tác phẩm, chưa nói đến việc du nhập các tư tưởng mới từ các nước Âu, Mỹ vào… Từ đó nhan nhản các trường phái triết học ra đời, rồi kéo theo sự tranh luận mang tính bổ sung cho nhau. Triết thuyết mạnh nhất lúc bấy giờ là thuyết Hiện Sinh của Jean Paul Sartre. Sự xuất hiện của triết thuyết này song song với những triết thuyết khác (Mỹ Học, Phân Tâm Học, Lý Luận Học…) kéo về phía mình những phương pháp lý luận có tính phê phán như “cấu trúc luận”; “hiện tượng luận”… phải xảy ra.
Doãn Quốc Sỹ trong cuốn “Văn Học và Tiểu Thuyết” (Sáng Tạo xuất bản tại Sài Gòn năm 1973) ở trang 348 có một “Ðồ Biểu Văn Xuôi Việt Nam”, kê ra khoảng 50 tác giả cùng các tác phẩm tiêu biểu của họ (tại Miền Nam từ 1954-1973), với những nội dung dưới nhiều thể loại như “truyện”, “nghiên cứu”, “phê bình”… về văn học Việt Nam trước và ngay tại thời điểm đó.
Tại Hoa Kỳ, năm 1986, nhà văn Võ Phiến ghi lại trong cuốn: “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Năm 1954-1975” (Nhà Xuất Bản Văn Nghệ tại Hoa Kỳ), tuy tác giả không ghi ra con số rõ ràng, nhưng người đọc có thể đếm từ đầu đến cuối các trang sách cộng lại được 267 tác giả mà trong đó những người viết văn xuôi chiếm đa số.
Năm 2000, Nhà Nghiên Cứu Văn Học Trần Hữu Tá (Ðại Học Tổng Hợp – SG) trong tác phẩm “Nhìn Lại Một Chặng Ðường Văn Học Ðã Qua”, trong phần tuyển chọn tác phẩm của các cây viết mà theo ông ta là có “xu hướng tiến bộ, yêu nước” gồm 60 tác giả viết văn xuôi.
Con số nhiều nhất là 267 (Võ Phiến), con số ít nhất (Doãn Quốc Sỹ), nó không phải là sự xác minh chắc chắn, nhưng dầu sao thì cũng làm cho mọi người cảm nhận về lực lượng cầm bút thời VNCH có con số đáng kể. Nếu đem so sánh với con số Nhà Văn Thời Tiền Chiến (trước 1945) thì ông Vũ Ngọc Phan trong quyển “Nhà Văn Hiện Ðại”, ông Cao Huy Khanh trong quyển “Vấn Ðề Khuynh Hướng Trong Tiểu Thuyết Miền Nam Từ 1954 Ðến 1973” (Tập San Thời Tập, số IV, ra ngày 14-4-1974) đều cho rằng số lượng các tác giả (văn xuôi) giai đoạn sau năm 1954 tại Miền Nam rất đáng kể (lên tới 200 người). Họ rất khác nhau trong quan niệm sáng tác vì sự xuất thân của họ ở nhiều thành phần xã hội khác nhau, và nhiều nhất là họ sống về nghề làm báo, dạy học… Chúng ta có thể thấy rõ các tên tuổi như Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Ðắc… (di cư từ Miền Bắc vào sau 1954), và những người mà sự nghiệp văn chương của họ khởi lên ngay tại Miền Nam như Thanh Tâm Tuyền, Lê Tất Ðiều, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Doãn Dân… Tất cả họ không thể hòa nhập với nhau, nên trên văn đàn lúc nào cũng tỏ ra hào hứng, gây xôn xao nơi độc giả, khiến giới sáng tác bị kích thích mạnh, cố tìm riêng cho mình một cách viết mới, đây chính ta mầm mống của của sự phát triển mạnh về số lượng người cầm bút ở Miền Nam (VNCH).
Bây giờ những nhà văn Miền Nam tên tuổi như Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Phú Ðức… (trước 1945), tiếp theo sau 1945 như Mai Văn Bộ, Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà… rối tiếp theo nữa như Ngọc Linh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Hà Huy Hà, Vân Trang… Rồi còn có những nhà văn Miền Trung như Vũ Hạnh, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Minh Quân, Nguyễn Mộng Giác… và sau 1964 đã xuất hiện những cây viết trẻ Hồ Minh Dũng, Nguyễn Mộng Giác, Trần Hoài Thư, Lê Văn Thiện, Hoàng Ngọc Tuấn, Từ Kế Tường, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Trần Duy Phiên, Huỳnh Ngọc Sơn, Nguyễn Mai, Dương Uẩn, Cung Tích Biền, Ðinh Tiến Luyện, Du Tử Lê, Thế Vũ… Dầu cho mỗi người trong họ có xu hướng “bên này” hoặc “bên kia” chăng nữa thì “họ” vẫn là những con người yêu văn chương, biết thể hiện tính dân tộc, đóng góp vào tính đa dạng của Văn Học Miền Nam, giai đoạn mà chính thể VNCH ngự trị…
Lực lượng viết văn hùng hậu như thế, song những người chuyên về “Phê Bình Văn Học” không phải ít! Sáng tác của họ là dùng lý luân, nghiên cứu, khảo cứu để từ đó phê phán những tác phẩm văn học mà họ thấy cần. Họ là những trí thức, những học giả, nhà báo, nhà giáo, nhà văn… chúng ta có thể kể các tên tuổi như: Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Lê Tuyên, Ðỗ Long Vân, Ðặng Phùng Quân, Lữ Phương, Nguyên Sa, Võ Phiến, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Hiến Lê, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Vũ Hạnh, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Lê Huy Oanh, Nguyễn Tấn Long, Trần Tuấn Kiệt, Cao Thế Dung, Ðặng Tiến, Tam Ích, Thế Phong, Nguyễn Xuân Hoàng, Tạ Tỵ, Nguyễn Sỹ Tế, Huỳnh Phan Anh, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Ðình Tuyến, Uyên Thao, Minh Huy, Nguyễn Nhật Duật, Cao Huy Khanh…
Song hành với nam giới, nữ giới cũng đã đạt nhiều thành quả trên văn đàn như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH… Nếu đem so sánh với các đàn chị như Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Vinh, Ái Lan, Linh Bảo, Vân Trang, Minh Quân, Mộng Trung, Lệ Hằng… thì trong các sáng tác của lớp nữ trẻ này đã phá vỡ được nét cổ điển trước đó, nhất là về cách diễn đạt tâm lý nhân vật bằng giọng điệu, ngôn từ rất ư sống sượng, không e lệ, không che giấu… nhất là các cảm xúc về nhục dục mà từ trước chua có ai dám viết (ở đây người viết xin nói thêm là không phải dùng cách “nói tục giảng thanh” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương nữa mà nói thẳng vào vấn đề!).
Dưới thời VNCH, chế độ tự do ngày càng được tôn trọng và được đề cao. Ở góc độ về suy nghĩ, các nhà văn nữ cũng như nam tỏ ra độc lập với các tư tưởng mới, do đó từ các nhận thức về xã hội không đống nhất, ngược lại còn kình chống nhau thật quyết liệt để bảo vệ cái mà tự cho mình là chính kiến nhất. Có thể nói nhờ vào tính chất này mà “Văn Học Miền Nam” thời VNCH rất đa dạng, tạo sự sôi động, không người nào có ưu thế, mà cũng không có người nào yếu thế trên văn đàn cả. Tất cả đều được tự do “cạnh tranh” trong sự ngang bằng, không phải xếp hạng, không ngôi thứ…
Có thể nói đây là giai đoạn của các tác phẩm viết bằng văn xuôi nở rộ. Ðó là các truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, tạp bút, ký sự… Nhà phê bình văn học Tạ Tỵ viết hai tập “Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay” (Tập 1. Kim Lai xuất bản, Sài Gòn, 1970) nội dung giới thiệu sự nghiệp văn nghệ và tác phẩm của 20 nghệ sĩ mà ông cho là thành đạt nhất ở Miền Nam, trong số này có tới 13 tác giả viết văn xuôi. Tạp chí Bách Khoa là một “bán nguyệt san”, có thể nói đây là một tạp chí rất có giá trị (kéo dài 18 năm), nội dung chính của tạp chí là quảng bá kiến thức chung về văn hóa nghệ thuật, kinh tế, chính trị… Cũng giống như các tạp chí đương thời, Bách Khoa cũng dành một số trang để đăng các tác phẩm văn học bằng văn xuôi. Ngay từ số đầu tiên (Số 1 ra ngày 15/01/1957, số cuối cùng là số 426 ra ngày 19/4/1975), nếu làm bài tính cộng thì có hơn 600 tác phẩm gồm: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, tùy bút, tiểu luận… do nhiều tác giả viết. thứ đến là tập san Văn do ông Nguyễn Ðình Vượng chủ trương, với mục đích in tuyển, giới thiệu tác phẩm văn, thơ, nên số lường các bài văn xuôi có con số tăng gấp đôi, gấp ba lần con số 600 trên. Tạp chí Văn Hóa – Chính Trị – Xã Hội (Trình Bày) chỉ hoạt động ngắn ngủi (hơn 2 năm từ 1970 đến 1972), với 42 số mà đã đăng khoảng gần 80 truyện ngắn, trung bình gần 2 truyện trên một số báo. Có thể nói các nhà văn Miền Nam thời đó ai cũng viết rất khỏe! (Nhà Văn Bình Nguyên Lộc viết khoảng 1000 truyện ngắn và nhiều tiểu thuyết, truyện dài khác; Học Giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã xuất bản được 100 quyển sách các loại – Từ Ðiển Văn Học Bộ Mới của các tác giả Ðỗ Ðức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá do Nhà Xuất Bản Thế Giới, 2004; trang 133 viết về Nhà Văn Bình Nguyên Lộc; trang 1143 viết về Học Giả Nguyễn Hiến Lê).
Sau 1975, những người nghiên cứu văn học ở Miền Nam đã có nhận định về sự phát triển vượt trội (đối với Miền Bắc) cả hai mặt chất lượng cũng như số lượng là nhờ vào sự tác động của báo chí cũng như các hoạt động sôi nổi của các nhà xuất bản.
Nhà Văn Vũ Bằng trong cuốn “Bốn Mươi Năm Nói Láo” có viết: “…riêng tại Sài Gòn vào thời điểm tháng Chạp năm 1963 có đến 44 tờ nhật báo…” (Tuyển tập Vũ Bằng – Triệu Xuân giới thiệu sưu tầm và tuyển chọn, Tập III; Nxb. Văn Học, xuất bản năm 2000; trang 537), chưa kể các báo tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san rồi đủ loại tạp chí, tập san, đặc san và cũng còn nhiều ấn phẩm khác do các nhà xuất bản phát hành… Nhà Văn Võ Phiến cũng cho rằng trước 1975, Sài Gòn có cả nghìn nhà in, 150 nhà xuất bản. Những nhà xuất bản có tên tuổi như Sống Mới, Khai Trí, Trường Thi, Nguyễn Ðình Vượng, Trí Ðăng… và kèm theo là những nhà phát hành như Thống Nhất, Nam Cường, Ðồng Nai, Á Châu…, mức hoạt động của họ chắc chắn các đồng nghiệp thời tiền chiến không thể nào sánh nổi…” (Hai Mươi Năm Văn Học Miền Năm 1954-1975 – Nhà Xuất Bản Văn Nghệ tại Hoa Kỳ).
Có một thực tế cần phải phê phán là các tác phẩm trước khi in thành sách đều đã đăng trên báo hoặc tạp chí… sở dĩ có chuyện này là vì tất cả nội các bài viết đó được độc giả đón nhận nồng nhiệt hay không? Một khi có được cảm tình và sự yêu thích của độc giả rồi thì các nhà xuất bản mới tìm đến tác giả xin được quyền xuất bản các tác phẩm đó. Dĩ nhiên khi các sách này được bày bán ở tiệm sách, độc giả sẽ mua nhiều, nhà xuất bản lời to, tác giả cũng kiếm được chút cháo!
Người viết bài này còn nhớ, thời đó loại truyện mà độc giả thích đọc nhất là loại “Võ Hiệp Kỳ Tình”. Ảnh hưởng loại truyện này của quần chúng quá mạnh, độc giả hầu như chiếm hết mọi tầng lớp trong xã hội (ngay như vị Tư Lệnh Không Quân lúc đó là ông Nguyễn Cao Kỳ về sau làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương cũng để đầu giường mình cuốn Cô Gái Ðồ Long, ông ta mê truyện Kim Dung thật, từng ví mình với nhân vật Trương Vô Kỵ và cho rằng bà Tuyết Mai là nhân vật Triệu Minh…). Phong trào luyện “chưởng” trong mọi giới lên cao, các sân khấu cũng thi nhau trình diễn tuồng “chưởng” (Lệnh Xé Xác, Cô Gái Ðồ Long…), trong giới học sinh và sinh viên thường kẹp bên mình một quyển sách gì đó với tựa có vẻ triết học hay một tập thơ nổi tiếng…
Người viết nhớ rất rõ là các nữ sinh thường hay kẹp bên bình tập “Bông Hồng Cài Áo của Nhất Hạnh, còn các nam sinh (cả nữ sinh) trình độ từ Ðệ Nhị, Ðệ Nhất cũng hay để lộ ra ngoài khi cầm trên tay các sách triết học, đa sồ là sách của tác giả Phạm Công Thiện như: “Hố Thẳm Tư Tưởng”, “Khai Ngôn Cho Một Câu Hỏi: Triết Học Là Gì?”, “Ðối Mặt Với 1000 Năm Cô Ðơn của Nietzche”… còn sinh viên thì cầm tay những tác phẩm ngoại quốc dịch ra Việt như: “Buồn Ơi Hãy Chào Mi” (Fracoise Sagan), “Chuông Nguyện Hồn Ai”, “Ngư Ông và Biển Cả” (Ernest Miller Hemingway)…
Về phần các Nhật Báo hay Tuần Báo đều chọn riêng cho mình một hay vài tác phẩm gì đó để đăng nhiều kỳ (Feuilleton) hằng ngày, hoặc hằng tuần… Người viết cũng nhớ rất rõ là truyện ăn khách cho các báo lúc đó là truyện kiếm hiệp của Kim Dung, báo nào cho đăng trước thì số bán ra được rất nhiều… còn nếu hôm nào báo không có đăng truyện Kim Dung tiếp theo, thì khoảng trống đó phải đăng ngay mục xin lỗi: “Máy bay mang báo từ Hồng Kông đến trễ, xin xem vào ngày mai. Thành thật cáo lỗi cùng độc giả!”, độc giả ghiền thì đến các sạp báo khác xem thử có báo nào “đăng” kịp không, nếu không thì đành thuê vài cuốn của Kim Dung (đã đăng báo trước đó) để xem lại cho đỡ ghiền!
Về việc viết Feuilleton, phải cộng nhận rằng đây chính là cần câu cơm của các nhà văn thời VNCH. Họ viết và dịch rất khỏe, có người viết tới 11, 12 bài mỗi ngày… Có lần Nguyễn Nam Anh phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông này cho biết: “Vào năm 1957 thì tôi viết mỗi ngày 11 feuilletons. Nhưng sau đó chính An Khê và Lê Xuyên còn viết nhiều hơn. An Khê có năm viết tới 12 feuilletons mỗi ngày, nhưng tôi chưa hề thấy ai vượt qua con số 12 nổi. Sự viết nhiều, viết ít, không do ta, cũng không do chủ báo. Ðó là may mắn (hay rủi ro) ngẫu nhiên…” (Tập San Văn, số 199, ra ngày 1-4-1972). Sự sôi động của báo chí nhìn thấy rất rõ vì tờ báo nào cũng muốn lôi kéo độc giả thật nhiều về cho mình, muốn làm được điều này tất nhiên các chủ báo phải biết cách tìm mời các nhà văn chuyên nghiệp và cả những người không chuyên nghiệp về cộng tác… Kết quả, một người có thể cộng tác với nhiều tờ báo, và một ngày người viết phải viết cho xong nhiều bài, thậm chí phải xong một truyện ngắn… khiến tác phẩm xem ra về mặt chất lượng có thể giảm sút. Ðây là vấn đề này khó tránh, viết cho kịp, cho đúng thời gian giao cho chủ báo kịp phát hành!…
Các nhà văn thời đó, chúng ta có thể phân biệt thành 3 nhóm riêng biệt, một nhóm trung thành với loại tiểu thuyết dài tình cảm hay chuyện gay cấn, ly kỳ… có các cây bút như Ngọc Linh, Ngọc Sơn (trên báo Nhân Loại, Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới và nhiều nhật báo khác); nhóm thứ hai thường xuyên viết cho mục tùy bút, đoản văn trên tuần báo Khởi Hành, Văn, Thời Tập và các báo khác như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ (tờ Sáng Tạo). Mai Thảo, Viên Linh, Võ Phiến, Vũ Bằng và một số người khác; nhóm thứ 3 viết nghị luận nội dung mang màu sắc chính trị – xã hội như của Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Lữ Phương, Nguyễn Nguyên, Nguyễn Trọng Văn… luôn là phần quan trọng tìm thấy các tạp chí Ðối Diện, Tự Quyết, Ðất Nước, Tin Văn, Trình Bày…
Trong các bài viết và công trình nghiên cứu, phê bình, ông Cao Huy Khanh và nhiều người khác đều gọi chung các thể loại truyện ngắn, truyện dài cho tới tùy bút, đoản văn… là “tiểu thuyết” (Các Thế Hệ Tiểu Thuyết Gia Miền Nam Thời Hiện Ðại – Tập san Thời Tập, số III, ra ngày 14-3-1974). Loại tiểu thuyết dài (nhiều trang) có số lượng rất lớn, như Ngọc Linh có hơn 20 tiểu thuyết (Ngọc Linh, Tình Cảm Miền Nam; Tập san Thời Tập, số XIV, ra ngày 10/11/1974). Một số tác giả khác cũng có số lượng tác phẩm tương tự. Nhưng phải công nhận rằng về mặt chất lượng nghệ thuật của tác phẩm chỉ ở thể loại truyện ngắn, mặc dầu những truyện dài do các cây viết tên tuổi như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Võ Phiến, Võ Hồng… Nếu kể từ ừ 15/11/1958 đến ngày 15/11/1959, thì trên tạp chí Bách Khoa, Nguyễn Ngu Í khi phụ trách mục “Phỏng Vấn Văn Nghệ Sĩ Về Truyện Ngắn Việt Và Ngoại Quốc Ðược Yêu Thích Nhất” (Tạp chí Bách Khoa, số 73, năm 1960), sau khi lấy ý kiến của 72 nhà văn, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu được hỏi, thì 42 người trong số 72 này thừa nhận rằng: Truyện ngắn Ba Con Cáo và Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc được ưa thích nhất. Thứ tự còn lại thuộc về các nhà văn thời trước như Khái Hưng, Phạm Duy Tốn… Sự đánh giá này của Nguyễn Ngu Í, khiến Bình Nguyên Lộc không đồng ý, theo ông thì “Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố” (tạp bút), “Cuống Rún Chưa Lìa” (truyện ngắn), “Tỳ Vết Tâm Linh” (truyện dài) mới là các tác phẩm hay của ông (Nguyễn Nam Anh: phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc; Tập san Văn, số 199, ra ngày 1/4/1972). Không biết có phải Nhà Văn Bình Nguyên Lộc có nói thực lòng hay không, chứ khi kiểm nhận lại thì rõ ràng ông ta nói “nước đôi” (1 truyện dài và 1 truyện ngắn), dầu sao thì chúng ta cũng phải tôn trọng ý kiến đa số (42/72), nên về truyện ngắn ở giai đoạn của VNCH ngự trị, ngoài những tác giả kỳ cựu như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Võ Phiến, Võ Hồng… các thế hệ nối tiếp như Túy Hồng, Dương Nghiễm Mậu, Y Uyên, Hoàng Ngọc Tuấn… được đánh giá là những nhà văn có được phong cách riêng, nội dung cốt truyện không bị trùng lặp với người khác.
Nếu đem so sánh với giai đoạn trước 1954, tuy số lượng tác phẩm có rất nhiều, có bề rộng về cuộc sống (được các nhà văn khai thác tối đa) do đó thích hợp với đủ mọi tầng lớp xã hội… nhưng rất khó kích động được sự ngưỡng mộ lâu dài của độc giả (chỉ tồn tại giai đoạn ngắn) so với các tác phẩm “vang bóng” trước đó như “Số Ðỏ” của Vũ Trọng Phụng, “Chí Phèo” của Nam Cao…
Hối đó, người viết nhớ rằng muốn tìm một cuốn sách (tìm hiểu) về loại chỉ dẫn làm người thì tìm tác giả Nguyễn Hiến Lê, truyện thì tìm đọc các tác giả Phan Du, Võ Hồng, Võ Phiến, Vũ Hạnh… Khác với người dân lao động Miền Nam, họ ít thích đọc sách, mà rất thích đọc Nhựt Trình (Nhật Báo). Hình ảnh của những người đạp Cyclo tại Sài Gòn cho ta thấy rõ điều này (sáng ra, sau cuốc xe mối xong chừng 7:30 đến 8 giờ, họ ghé vào quán cà phê vỉa hè, ngồi nhâm nhi ly cà phê đen, phì phà vài hơi thuốc lá và lật tờ báo chiều hôm qua ra xem tiếp, thế rồi có người gọi, họ uống nốt chỗ cà phê còn lại, gấp tờ báo đem cất vào Cyclo của mình, và chở khách đi…
Ðến trưa, đường phố yên ắng, họ đưa xe đến một gốc cây nào đó nằm bên đường, dưới bóng mát của tàng cây này, họ lại ngửa lưng trên nệm xe của mình, lật tờ báo của mình ra xem tiếp… cho đến khi phải dùng tờ báo này che mặt đánh thẳng một giấc ngủ… cho đến khi có khách đến đánh thức, và lại tiếp tục “đạp”cho đến chiều… Trước khi về nhà, họ không quên ghé qua sạp báo mua một báo gì đó mà họ ưa thích đọc hằng ngày (Nhựt Báo ở Sài Gòn lúc đó chỉ phát hành vào buổi chiều). Những tờ báo mà người bình dân Sài Gòn hay đọc rất da dạng về nội dung, ngoài tin tức chung chung, họ tìm những báo có các đăng các tiểu thuyết của Ngọc Linh, Ngọc Sơn, An Khê, bà Tùng Long…
Trở lại với việc xuất bản sách, tuy rằng đa phần sách được xuất bản sau khi nội dung của nó đã được đăng trên các báo, nhưng có loại sách không đăng báo trước khi xuất bản vì không thu hút đa số độc giả như loại sách của Thiếu Nhi. Vào những năm 60 các nhà in cho in loại sách này khá nhiều vì nội dung đề cao lòng nhân ái, giá trị đạo đức con người mà các nhà văn Nhật Tiến, Lê Tất Ðiều, Minh Quân… và còn nhiều tác phẩm khác thuộc tủ sách Tuổi Hoa, loại này in giấy khổ nhỏ (để thiếu nhi dễ dàng đóc và cất giữ: Hóa Tím, Hoa Ðỏ, Hoa Xanh… và kèm theo là các loại truyện bằng tranh).
Sôi động và hấp dẫn đối với Thiếu Nhi có lẽ các tác phẩm của nhà văn Duyên Anh, ông ta thành lập ra nhà xuất bản Tuổi Ngọc chuyên xuất bản sách cho thiếu nhi mà ông là tác giả của một số truyện truyện dành cho độc giả tuổi từ 13, 14 trở lên, sách bán rất chạy nhờ vào tác giả biết kích động cho các thiếu nhi thích tự do, thích phiêu lưu, thích làm anh hùng cứu nhân độ thế… Ngoài những sách có nội dung nói trân, Van Học Miền Nam lúc đó còn ghi nhận sự có mặt đáng kể của xác sách viết về lịch sử, địa lý như “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn), “Non Nước Bình Ðịnh”, “Non Nước Phú Yên” của Nguyễn Ðình Tư, “Hương Nước Hồn Quê” của Toan Ánh…
Như vậy, Văn Học Miền Nam thời VNCH thật đa dạng, nó phát triển cực mạnh nhờ vào giai đoạn lịch sử, nhất là chế độ tự do thực sự đang ngự trị ở đây. Nội dung của tất cả các tác phẩm văn học cũng tùy theo sự ưa thích của từng độc giả đón nhận… Chính điều kiện này làm cho các nhà văn, nhà báo tìm cách chạy theo đúng thị hiếu người đọc, dĩ nhiên điều này “tiêu chuẩn” về “đạo đức làm người” bị chi phối bởi “đồng tiền” nhiều hơn. Chúng ta không thể không ghi nhận câu nói thưởng nở trên môi của các nhà văn, nhà báo: “Viết mới có tiền để sống chứ! Không viết thì biết làm gì đây?”…

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

PHE TA PHE ĐỊCH: Chuyện Nguyễn Tấn Dũng bị ám sát hụt 2 lần


Trước khi đưa tin về sự kiện quan trọng, Thùy Trang khẳng định là KHÔNG có thằng Cộng Sản nào tốt cả, tuy nhiên nguồn tin Tình Báo chỉ nêu rõ vấn đề sự thật là ai dính dáng tới TQ và ai không.

Trước hết nói về T.T Nguyễn Tấn Dũng, ông không phải là người cải cách hay thân Mỹ bỏ Trung. Trung Quốc rất ghét Nguyễn Tấn Dũng là điều hiển nhiên.
Trong nội bộ, Bộ Tứ hiện nay có 4 nhân vật, 2 theo Trung Quốc là Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng và 2 cùng một phe là Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng.

Các bạn nhìn thấy trong thời gian qua có nhiều bài báo bênh vực Nguyễn Tấn Dũng để đánh Trương Tấn Sang và ngược lại. Những bài báo và Blogs đó chính là của tình báo Hoa Nam, họ muốn chia rẽ Sang và Dũng để dễ bề khuynh đảo.
Mặt khác các bạn cần biết là Trần Đại Quang, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII, được Quốc hội (Đa số là phe Dũng) phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ Công an. Ngày 5 tháng 12 năm 2011, được Trương Tấn Sang phong hàm Thượng tướng Công an Nhân dân. Ngày 29 tháng 12 năm 2012, lần nữa Quang được Sang phong lên thành Đại tướng Công an Nhân dân.


Trần Đại Quang bị tình báo Trung Quốc tung tin lên mạng, cho rằng ông khai man tuổi và lấy bằng cấp của một người trùng tên đã chết. Tất cả các tin tức nầy đều là GIẢ để nhầm triệt hạ uy tín Trần Đại Quang.

Như vậy chúng ta thấy phe (tạm gọi ) đối đầu với Trung Quốc có Sang, Dũng và Trần Đại Quang.

Trở lại chuyện Nguyễn Tấn Dũng bị ám sát hụt lần thứ NHẤT tại nhà riêng tại Sàigòn. Khoản gần 5 giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 2007, tình báo Hoa Nam đã gài thuốc nổ tương đương 30kg TNT được đựng trong 2 bao cát đặt ngay phía sau bức tường, phía dưới phòng ngủ của Nguyễn Tấn Dũng.

Sức nổ kinh hoàng của 2 bao TNT đã làm sập bức tường cao trên 2 thước, bể sập cửa sổ nơi Nguyễn Tấn Dũng đang ngủ nhưng chỉ làm bị thương chứ không chết.

Vào đầu tháng 5, năm 2014, một vụ bắn tỉa nhắm vào Nguyễn Tấn Dũng lúc ông đang ngồi trong xe, tuy nhiên viên đạn chỉ trượt qua kính chống đạn, lần nữa Nguyễn Tấn Dũng thoát chết trong gang tất. Hiện nay chỗ ở của Nguyễn Tấn Dũng gần như bí mật và được sự bảo vệ nghiêm của nhân viên tình báo "nước ngoài".

   

Đúng 22 ngày, sau khi Nguyễn Tấn Dũng bị ám sát hụt, tức vào ngày 22/5/2014, một phái đoàn của Mỹ mang danh "đại diện Tập đoàn Dầu khí Exxonmobil (Hoa Kỳ)" do ông Peter P.Clark và ông Raymond E. Jones, Phó Chủ tịch Tập đoàn dẫn đầu đến Việt Nam, nhưng trong thực chất thì người CẦM đầu cho "Tập đoàn Dầu khí" Hoa Kỳ chính là Lê Hoàng, một nhân viên "nước ngoài" đến hỗ trợ cho Nguyễn Tấn Dũng. Phái đoàn nầy được Trương Tấn Sang mời vào Phủ Chủ Tịch tiếp đón. Phái đoàn Mỹ từ chối lời mời gặp Nguyễn Phú Trọng trong cùng thời điểm nầy.

Vào tháng 3/2015, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang sang thăm Mỹ, không phải là để kỷ niệm 20 bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, thực ra chuyến đi nầy rất quan trọng trong việc nhờ cậy tình báo "nước ngoài" để trùy lùng bọn Hoa Nam đang hoạt động chằng chịt tại Việt Nam.

Theo tình hình như hiện nay thì PHE NGUYỄN TẤN DŨNG rất mạnh và đang đảo ngược tình thế. Các báo chí và Đài Truyền Hình đang chỉa mũi dùi tấn công Công An Hà Nội và các Lãnh Đạo Hà Nội cùng phe với Nguyễn Phú Trọng đang đi đêm với Trung Quốc.

Nếu tình hình nầy được tiếp tục giữ vững như vậy thì trong một thời gian ngắn thôi, nước Việt Nam sẽ có thể chế ĐA NGUYÊN.

(*) Ghi chú thêm, hiện nay trên mạng xuất hiện nhiều bài TỐ CÁO Nguyễn Tấn Dũng thân Trung Quốc và là người đã đưa Hoàng Trung Hải vào chức phó Thủ Tướng bla bla bla ... Tất cả tin trên có khả năng cao là của Hoa Nam tung ra để triệt hạ NTD.

Thân Ái


Nguyễn Thùy Trang


NGUYỄN THẾ THẢO MUA CHỨC CHỦ TỊCH HÀ NỘI BẰNG TIỀN CỦA "TRUNG NAM HẢI" 1.500 TỶ ĐỒNG ĐƯỢC CHIA CHO BỘ CHÍNH TRỊ.


Đây là tin tình báo thuộc loại chính xác là 99.9%. Vào tháng 6 năm 2008, cuộc chạy đua vào chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội chỉ còn 2 nhân vật được Bộ Chính Trị CSVN đưa vào danh sách là (1) ông Trịnh Đình Dũng vào thời điểm 2008, ông là Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc. (2) Vào thời điểm 2008, Nguyễn Thế Thảo chỉ là Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh. 

Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ngày hôm nay đúng ra là được BCT điều động vào chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội, tuy nhiên chỉ 1 tháng trước khi ông được bổ nhiệm thì Nguyễn Thế Thảo được thay thế vào vị trí.
Vào ngày 1 tháng 8 năm 2008, Nguyễn Thế Thảo được Trung ương đảng cộng sản Việt Nam điều động từ vị trí đương nhiệm là Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh (nhiệm kỳ 2005-2011) về Hà Nội làm phó bí thư thành ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Cả hai "ứng cử viên" bí mật của BCT là Trịnh Đình Dũng và Nguyễn Thế Thảo đều CHẠY chức bằng tiền tỷ, nhưng Trịnh Đình Dũng bị đánh bại vì số tiền Nguyễn Thế Thảo chia cho BCT là 1.500 tỷ (Một ngàn năm trăm tỷ).

Đây là số tiền CỰC KỲ LỚN đối với cá nhân Thảo, và Thùy Trang truy tìm nguồn tiền "Chạy Chức" nầy có nguồn gốc từ Trung Nam Hải được đưa cho Thảo qua một tay ANH CHỊ có bí danh là HOÀNG ở Quảng Châu. Hoàng chính là cháu đích tôn của Hoàng Văn Hoan.

(*) Hoàng Văn Hoan nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979, rồi trốn sang Trung Quốc sau đó.

Nguyễn Đức Chung

Số tiền 1.500 tỷ mà Nguyễn Thế Thảo nhận được từ Trung Quốc được Thượng Tá Công An Nguyễn Đức Chung (Phó Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội) là con của Lê Hồng Anh làm nhiệm vụ giao tiền cho BCT.


(*) Nguyễn Đức Chung được bổ nhiệm làm Giám đốc Công an thành phố Hà Nội từ tháng 9 năm 2012, thay thế Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh về hưu, được phong hàm Thiếu tướng ngày 13 tháng 7 năm 2013.
Vào khóa thứ 2 chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội, Trịnh Đình Dũng ra chạy đua lại lần nữa nhưng bị Nguyễn Thế Thảo đánh bại.
NGUYỄN THẾ THẢO TIÊU DIỆT TRUNG TƯỚNG NGUYỄN ĐỨC NHANH NHƯ THẾ NÀO?
Sau khi Thảo thương lượng với tướng Công An Nguyễn Đức Nhanh, nhường ngôi cho Công An thân Trung Quốc là Nguyễn Đức Chung vào chức vụ Giám đốc Công an thành phố Hà Nội nhưng Nguyễn Đức Nhanh phản đối.
Nguyễn Thế Thảo dằn mặt tướng NHANH bằng cách liên lạc với HOÀNG (Quảng Châu) đưa XÃ HỘI ĐEN Trung Quốc từ Hồng Kông sang giết chết con trai Nguyễn Đức Nhanh.
Đầu tháng 9/2011, Nguyễn Đức Quang, tự Quang Béo, con trai của trung tướng Nguyễn Đức Nhanh bị bắn trọng thương tại dốc Bác Cổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Lúc đó Quang bị thương nặng, được đưa vào bệnh viện và qua đời 3 ngày sau đó.


NGUYỄN THẾ THẢO LÀM MAI ĐỖ THỊ HUYỀN TÂM CHO NỒNG ĐỨC MẠNH.
Đỗ Thị Huyền Tâm, sinh 17/10/1966, quê tại Ninh Xá, Bắc Ninh (cùng quê với tướng Phạm Văn Trà). Về tuổi đời, người vợ mới của Cụ Tổng trẻ hơn con trai Cụ là Nông Quốc Tuấn, Bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang 3 tuổi. Cô dâu là Tổng giám đốc một công ty TNHH Minh Tâm , là đại biểu Quốc hội khoá 12 và khoá 13 hiện nay.
Vào tháng 3 năm 2012 thì Đỗ Thị Huyền Tâm chính thức làm vợ của Nồng Đức Mạnh về ở chung tại Dinh Thự tại Hồ Tây, Hà Nội.

Đường giây Trung Nam Hải hiện nay ở Hà Nội là:
(1) Chủ tịch UBND T.P Hà Nội Nguyễn Thế Thảo
(2) Giám Đốc Công An T.P Hà Nội Nguyễn Đức Chung

Đường giây nầy liên quan mật thiết với Hoàng (Quảng Châu) cũng là ông Trùm Gỗ Lậu, Trùm Du Đảng ở Trung Quốc. Đường giây chuyển Gỗ Lậu sang Trung Quốc từ Hà Nội sẽ đưa sang cho Hoàng với sự tiếp tay của Chủ tịch UBND Thành phố Bắc Ninh là Nguyễn Quốc Liêm.

Như vậy chúng ta thấy là bàn tay của Trung Nam Hải rất chặt chẽ, là những tay lãnh đạo từ Bắc Ninh cho tới Hà Nội.

(*) Kỳ HAI sẽ là TIN TÌNH BÁO nói về T.T Nguyễn Tấn Dũng bị Trung Nam Hải ÁM SÁT hụt 2 LẦN tại Hà Nội như thế nào.

Thân Ái


Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

HỒ CHÍ MINH, ÔNG LÀ AI?




















BẠN CÓ CHOÁNG KHÔNG?



Trước đây, khi khám phá ra cuộc đời thật của Hồ Chí Minh mình đã choáng. Cả cuộc đời tuổi trẻ của mình, đã coi Hồ Chí Minh như một vị thánh qua những thông tin bị đầu độc. Thế nhưng, vẫn an ủi đôi phần là dù sao thì vẫn là những tư liệu chưa được công nhận hoặc ít nhất là có sự méo mó nào đấy chăng để tự an ủi mình đôi chút về một quãng đời thừa thãi lòng tin và bị đầu độc thông tin.


Nhưng, giờ thì không chỉ có choáng, mà sự thật được chính CS phơi bày rằng: Hồ Chí Minh là người Tàu Quảng Đông với tên là Hồ Quang, sinh năm 1901 và là Thiếu tá quân đội Tàu chứ không phải là Nguyễn Sinh Cung con ông Nguyễn Sinh Sắc nào sinh năm 1890 ở Nghệ An nào cả. Cũng chẳng có chuyện đi tìm đường cứu nước hay cứu nhà với Hồ Quang người Quảng Đông này. Hồ Quang biết ngoại ngữ là chữ Quốc ngữ.

Và hẳn nhiên, những gì đằng sau đó, từ tên tuổi, sự nghiệp, đạo đức.... đều là bịa đặt.
.
Nguyên văn tiểu sử được ghi như sau: "Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm1939. Hồ Quang - Phụ trách điện đài – 38 tuổi - Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ."

Nguồn: Cục Văn Thư lưu trữ Nhà nước Việt Nam hẳn hoi chứ không hề của thế lực thù địch nào khác hoặc ai bịa ra nhé.
http://www1.archives.gov.vn/TrienlamTQ/Program/Chude1_8.asp


Bạn nghĩ gì khi tiếp nhận thông tin này?
Theo bạn, tại sao giờ này CSVN mới cho công bố tài liệu này?
Tôi thì hiểu ra một điều khá đơn giản là vì sao, từ năm 1941 ông ta sang Việt Nam, 1945 là chủ tịch nước, mà đến hơn 12 năm sau ông ấy mới về Nghệ An, kể cả khi ông Khiêm chết vẫn không về, trong khi ông đi khắp nơi, kể cả Thanh Hóa mà vẫn không về Nghệ An.

Địa chỉ đây và đã chụp lại ở dưới;